CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT MỚI VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG ĐA CẤP TẠI VIỆT NAM

19/12/2018, 03:21 AM

Ngày 12/03/2018, Chính phủ ban hành Nghị định 40/2018/NĐ-CP (“Nghị định 40”) về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Nghị định 40 thay thế Nghị định 42/2014/NĐ-CP (“Nghị định 42”) và có hiệu lực kể từ ngày 02/05/2018.

Tiếp đó, vào ngày 24/05/2018, Bộ Công Thương ban hành Thông tư 10/2018/TT-BCT (“Thông tư 10”) hướng dẫn một số điều của Nghị định 40. Thông tư 10 bãi bỏ Thông tư 24/2014/TT-BCT và có hiệu lực kể từ ngày 15/07/2018.

Nghị định 40 và Thông tư 10 ra đời trong bối cảnh hoạt động bán hàng đa cấp (“BHĐC”) tại Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp và cần có quy định cụ thể, rõ ràng, khả thi, mang tính siết chặt hơn nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu quản lý của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này.

So với Nghị định 42, Nghị định 40 tạo ra một khung pháp lý chặt chẽ hơn điều chỉnh hoạt động BHĐC. Nhiều quy định mới được bổ sung nhằm mục tiêu hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng cường kiểm soát, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước và xử lý vi phạm đối với hoạt động BHĐC, bảo đảm không để xảy ra tình trạng lợi dụng phương thức kinh doanh đa cấp để huy động vốn trái phép.

Nhìn chung, Nghị định 40 và Thông tư 10 có một số điểm mới quan trọng như sau:

Thứ nhất, về các hành vi bị cấm trong BHĐC:

Đối với doanh nghiệp BHĐC, Nghị định 40 có quy định thêm những hành vi bị cấm mới như:

  • Cung cấp thông tin gian dối về kế hoạch trả thưởng, về lợi ích của việc tham gia mạng lưới BHĐC;
  • Thực hiện khuyến mại sử dụng mạng lưới gồm nhiều cấp, nhiều nhánh mà trong đó người tham gia chương trình khuyến mãi có nhiều hơn một vị trí, mã số hoặc các hình thức tương đương khác;
  • Tổ chức các hoạt động trung gian thương mại theo quy định của pháp luật thương mại nhằm phục vụ cho việc duy trì, mở rộng và phát triển mạng lưới BHĐC;
  • Tiếp nhận hoặc chấp nhận đơn hoặc bất kỳ hình thức văn bản nào khác của người tham gia BHĐC, trong đó, người tham gia BHĐC tuyên bố từ bỏ một phần hoặc toàn bộ các quyền của mình theo quy định của Nghị định 40 hoặc cho phép doanh nghiệp không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người tham gia BHĐC theo quy định của Nghị định 40;
  • Không sử dụng hệ thống quản lý người tham gia BHĐC đã đăng ký với cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động BHĐC để quản lý người tham gia BHĐC.

Đối với người BHĐC, quy định mới về việc cấm thực hiện hoạt động BHĐC tại địa phương nơi doanh nghiệp chưa được cấp giấy xác nhận đăng ký hoạt động BHĐC tại địa phương.

Thứ hai, về điều kiện đăng ký hoạt động BHĐC:

Về ký quỹ, doanh nghiệp có trách nhiệm mở tài khoản ký quỹ và ký quỹ một khoản tiền tương đương với 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 10 tỷ đồng tại một ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Số tiền ký quỹ này tăng gấp đôi so với số tiền ký quỹ quy định tại Nghị định 42. Quy định này nhằm đảm bảo, nâng cao khả năng thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với người tham gia BHĐC và Nhà nước trong trường hợp Doanh nghiệp BHĐC chấm dứt hoạt động nhưng không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình.

Về tài liệu BHĐC, một trong những điều kiện quan trọng để đăng ký hoạt động BHĐC là doanh nghiệp phải có bộ tài liệu BHĐC bao gồm: Hợp đồng tham gia BHĐC, Kế hoạch trả thưởng, Chương trình đào tạo cơ bản, Quy tắc hoạt động (“Bộ tài liệu BHĐC”). Nghị định 40 đã quy định cụ thể nội dung cơ bản cần đáp ứng và hình thức của Bộ tài liệu BHĐC. Điều này xuất phát từ việc khắc phục nhược điểm của Nghị định 42, khi chỉ đưa ra khái niệm các tài liệu, quy định một cách chung chung và không cụ thể, thống nhất các nội dung cần có của Bộ tài liệu BHĐC.

Về hệ thống công nghệ thông tin quản lý người tham gia BHĐC, đây là điều kiện bắt buộc đối với doanh nghiệp khi tiến hành đăng ký hoạt động BHĐC. Hệ thống này phải được vận hành trên máy chủ đặt tại Việt Nam và doanh nghiệp phải cung cấp các thông tin cơ bản liên quan đến hoạt động BHĐC theo quy định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải đảm bảo người tham gia BHĐC có thể truy cập và truy xuất các thông tin cơ bản về hoạt động BHĐC của họ và cung cấp quyền truy cập vào tài khoản quản lý hệ thống này theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về quản lý hoạt động BHĐC.

Về trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, doanh nghiệp buộc phải có trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin về doanh nghiệp và hoạt động BHĐC và đây cũng là một điều kiện bắt buộc khi muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp. Khi tiến hành nộp hồ sơ đăng ký hoạt động BHĐC doanh nghiệp phải nộp kèm theo Tài liệu chứng minh doanh nghiệp có trang thông tin điện tử đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.

Về tài liệu chứng minh doanh nghiệp có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia BHĐC, trước đó, Nghị định 42 chỉ quy định doanh nghiệp có trách nhiệm giải quyết khiếu nại của người tham gia BHĐC và người tiêu dùng nhưng chưa có cơ chế đảm bảo để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ này. Nghị định 40 đã yêu doanh nghiệp phải có tài liệu chứng minh doanh nghiệp có hệ thống thông tin liên lạc để tiếp nhận, giải quyết thắc mắc, khiếu nại của người tham gia bán hàng đa cấp khi nộp hồ sơ đăng ký hoạt động BHĐC.

Thứ ba, tổ chức hoạt động BHĐC tại địa phương:

Doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký tại Sở Công Thương tỉnh, thành phố với hồ sơ, thủ tục cụ thể, phức tạp hơn so với Nghị định 42. Theo Nghị định 40, doanh nghiệp được thực hiện hoạt động tại địa phương nếu có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại địa phương, hoặc ủy quyền cho một cá nhân cư trú tại địa phương (nếu không lập trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện tại địa phương đó) làm người đại diện tại địa phương để thay mặt doanh nghiệp làm việc với các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương đó.

Thứ tư, về điều kiện đối với người tham gia BHĐC:

Nghị định 40 bổ sung thêm các trường hợp không được tham gia BHĐC gồm: Người tham gia BHĐC đã từng bị xử phạt do vi phạm các quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 5 Nghị định 40 mà chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Thứ năm, về cách thức chi trả hoa hồng và lợi ích kinh tế khác:

Doanh nghiệp BHĐC có trách nhiệm thanh toán hoa hồng, tiền thưởng, khuyến mại và các lợi ích kinh tế khác bằng tiền cho người tham gia BHĐC dưới hình thức chuyển khoản qua ngân hàng.

Thứ sáu, về yêu cầu đối với Đào tạo viên:

Đào tạo viên phải có xác nhận kiến thức pháp luật về BHĐC. Xác nhận kiến thức pháp luật về BHĐC (theo Thông tư 10) là một yêu cầu bắt buộc đối với Đào tạo viên và có giá trị tương đương như Chứng chỉ đào tạo viên (theo Thông tư 24).

Theo quy định tại Thông tư 10, việc cấp xác nhận kiến thức pháp luật về BHĐC được kiểm soát chặt chẽ thông qua bước kiểm tra kiến thức pháp luật về BHĐC được Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng tổ chức hoặc ủy quyền bằng văn bản cho cơ sở đào tạo kiến thức pháp luật về BHĐC tổ chức. Trong khi đó, theo quy định tại Thông tư 24 thì việc kiểm tra này được thực hiện khá đơn giản tại các cơ sở đào tạo Đào tạo viên được Cục Quản lý cạnh tranh chỉ định và Cục Quản lý cạnh tranh cấp Chứng chỉ Đào tạo viên theo đề nghị của doanh nghiệp.

Qua đó có thể thấy rằng Thông tư 10 đã có sự kiểm soát chặt tại khâu kiểm tra Đào tạo viên nhằm đảm bảo họ có kiến thức vững về hoạt động BHĐC mà họ sẽ đào tạo cho người tham gia BHĐC.

Thứ bảy, về quy định chuyển tiếp của Nghị định 40:

Trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày Nghị định 40 có hiệu lực, các doanh nghiệp đã được cấp Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Hoạt Động BHĐC theo quy định tại Nghị định 42 phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Nghị định 40 này.

Có thể thấy rằng, Nghị định 40 và Thông tư 10 đã thể hiện được sự quản lý chặt chẽ hơn của cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động BHĐC, đã có giải pháp nhằm làm minh bạch, rõ ràng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp BHĐC. Kể từ khi Nghị định 40 có hiệu lực đến nay, các doanh nghiệp BHĐC đã cố gắng nỗ lực tối đa nhằm đáp ứng các yêu cầu của Nghị định này trong thời hạn quy định.

Ý kiến bạn đọc